Menu Đóng

Soạn bài Tràng Giang- Huy Cận

Câu 1:

Câu thơ đề từ:            

“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”

  Câu thơ đề từ là của chính tác giả định hướng cảm xúc cho toàn bài thơ. Đó chính là nỗi buôn sầu man mác lan toả một cách nhẹ nhàng mà lắng sâu trước cảnh trời rộng khi nhà thơ lặng ngắm cảnh lúc hoàng hôn.

– Cảnh: trời rộng, sông dài: không gian mênh mông, rộng lớn. Mang tầm vũ trụ. Biện pháp nghệ thuật  ẩn dụ cho thấy nỗi nhớ của nhà thơ.

– Tình: bâng khuâng (xao xuyến, ngỡ ngàng, luyến tiếc); nhớ (hoài niệm).

=> Cảm xúc chủ đạo của bài thơ chính là nỗi buồn, tâm trạng khắc khoải trước vũ trụ bao la bát ngát.

Câu 2:

Âm điệu chung của bài thơ:

– Bài thơ mang một âm điệu buồn, bâng khuâng, man mác da diết, sầu nặng được diễn tả bằng một loạt các tính từ từ chỉ cảm xúc kết hợp với những từ láy tường hình: buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, lơ thơ, đìu hiu, sâu chót vót, cô liêu, lặng lẽ, đùn, dờn dợn,…. Đó là nỗi buồn sầu không gian, sầu vũ trụ miên man và dậy lên nỗi nhớ quê nhà. Nỗi buồn mênh mông, xa vắng của cái tôi bé nhỏ cô đơn trước cảnh vũ trụ bao la bát ngát.

– Nhịp thơ 3 – 4 tạo nên một âm điệu đều đều, bình lặng. Các những câu thơ sử dụng cân xứng nhịp nhàng, vừa phối hợp thanh điệu lên xuống, luân phiên BB/ TT/ BB – TT/ BB/ TT tạo nên một âm hưởng trôi chảy triền miên, da diết cùng nỗi buồn vô tận trong cảnh vật và hồn người.

– Âm điệu giống như, dập dềnh trên sông và trên biển.

“Sông gợn Tràng Giang, buồn điệp điệp.

Con thuyền xuôi mái nước song song”

Câu 3:

Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ mang đậm màu sắc cổ điển mà vẫn gần gũi, thân thuộc được thể hiện nhiều nhất ở khổ thơ đầu tiên:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

  Con thuyền xuôi mái nước song song,

  Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

  Củi một cành khô lạc mấy dòng”

–  3 câu thơ đầu mang đậm màu sắc cổ điển:

+ Hình ảnh “sóng gợn” và “con thuyền xuôi mái” mang vẻ đẹp tĩnh lặng, nhẹ nhàng thường thấy trong thơ cổ. Bức tranh thiên nhiên hoang sơ, rộng lớn và nhuộm màu tâm trạng. Đó là nét đặc trưng của thơ cổ điển.

+ Sử dụng bút pháp gợi, không miêu tả. Từ đó điều phản ánh sâu sắc nhất chính là tâm trạng của nhà thơ qua bức tranh thiên nhiên đó

– câu thơ thứ 4 mang vẻ đẹp hiện đại:

+ Hình ảnh “củi một cành khô”: mộc mạc, bình dị gần gũi, ít gặp trong thơ cổ.

=> Nỗi buồn mênh mang, xa vắng của cái tôi bé nhỏ, cô đơn trước cảnh vũ trụ bao la bát ngát.

Ngoài ra, toàn bài thơ vẫn mang những hình ảnh, giọng điệu đậm sắc thái cổ điển:

+ Hình ảnh thiên nhiên ước lệ tượng trưng thường dùng trong thơ cổ: thuyền về, nước lại; nắng xuống, trời lên; sông dài, trời rộng; mây đùng núi bạc; bóng chiều; vời con nước; khói hoàng hôn; … để đặc tả nên bức tranh thiên nhiên cũng như bức tranh tâm trạng của nhân vật trữ tinh.

+ Giọng điệu, âm hưởng có chút gì đó mang âm hưởng cổ kính, trang nghiêm, đậm chất Đường thi:

Tuy nhiên, dẫu vậy thì Tràng Giang vẫn là một bài thơ rất gần gũi và thân thuộc với những hình ảnh mang màu sắc đặc trưng cho quê hương xứ sở: Tràng gian, hình ảnh dòng sông sóng lượn, con thuyền xuôi mái chèo, cành củi khô, tiếng làng xa vãn chợ chiều,… . Hình ảnh, âm thanh giản dị, thanh đạm đã vẽ nên những bức tranh mang đậm hơi thở của cuộc sống sinh hoạt, của con người Việt Nam.

=> Sự hòa quyện của hai hệ thống hình ảnh vừa cổ điển, vừa gần gũi thân thuộc nêu trên tạo cho bài thơ một vẻ đẹp độc đáo: đơn sơ mà tinh tế, cổ điển mà quen thuộc.

 Câu 4:

Tình yêu thiên nhiên của tác giả vẫn luôn chứa đựng và ấp ủ một lòng yêu nước da diết, thầm kín.

Thiên nhiên trong bài thơ là những hình ảnh quen thuộc của cảnh sắc quê hương đất nước. Chúng đã đi vào thơ Huy Cận với vẻ đẹp hùng vĩ, sáng trong nhưng nhuốm màu tâm trạng. Rất nhiều hình ảnh quen thuộc, sóng gợn, thuyền xuôi mái, cành củi khô, bèo dạt, bờ xanh, bãi vàng, mây núi, cánh chim….đươc dùng để vẽ lên những bức tranh thiên nhiên đặc sắc. Phải yêu quê hương thì tác giả mới có thể vẽ nên bức tranh đó, cho dù chúng rất nhuốm màu tâm trạng: buồn da diết. Tuy nhiên, đó chính là nỗi cô đơn của cả một thế hệ vừa nhận ra cái tôi nhỏ nhoi, cô đơn của mình trước một cuộc đời mênh mông  nhưng bế tắc .Thế nhưng buồn mà không bi quan, chán nản và thông qua bài thơ ta nhận thấy lắng sâu một tình yêu quê hương tha thiết, nồng nàn của nhà thơ.

“Lòng quê dờn dợn vời con nước

  Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

 => Tình quê khắc khoải trong trái tim người thi sĩ.

Câu 5:

Những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ:

– Bài thơ có sự kết hợp hài hoà của hai yếu tố cổ điển và hiện đại.

– Thể thơ thất ngôn trang nghiêm, cổ kính, với cách ngắt nhịp quen thuộc tạo nên sự cân đối, hài hòa

– Ngôn ngữ thơ cô đọng,hàm súc

– Sử dụng thủ pháp nghệ thuật ước lệ tượng trưng

– Sử dụng nhiều từ Hán-Việt tạo nên vẻ trang trọng cổ kính của bài thơ

– Các biện pháp tu từ: nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, điệp ngứ, đối để thể hiện đúng tâm trạng lẻ loi,cô đơn của người lữ khách xa quê: hữu hạn/ vô hạn; nhỏ bé/ lớn lao; không/ có;

– Sử dụng thành công các loại từ láy: láy âm (Tràng Giang, đìu hiu, chót vót, …), láy hoàn toàn (điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn,…)

Luyện tập:

Bài 1:

Cách cảm nhận không gian, thời gian trong bài thơ có những điểm đáng chú ý như:

– Không gian: mênh mông, rộng lớn, mang tầm vũ trụ: trời rộng, sông dài.

+ Hình ảnh con thuyền cứ khuất dần rồi xa mờ hẳn, nước đành chia “Sầu trăm ngả” không gian giờ đã được mở rộng ra đến trăm ngả, vô tân mênh mang không có lấy một điểm tựa nào,…

+ Hai câu thơ cuối của khổ 2 đã mở ra một không gian ba chiều: chiều sâu, xa và cao. Thông thường “chót vót” chỉ được dùng để tả chiều cao vào thơ Huy Cận lại có khả năng diễn tả chiều sâu: vừa cao chót vót, lại vừa sâu thăm thẳm. Không gian như vụt lớn hơn ra. Trên bức tranh sông dài hiện thêm một nét trời cao “sâu chót vót”, vài cồn đất nhỏ “bến cô liêu”. Từ chiều dọc không gian mở ra chiều ngang, lan tỏa đôi bờ. Chiều thứ ba của không gian vũ trụ mở ra bầu trời sâu chót vót. Cả ba chiều không gian đều không có giới hạn, tất cả thấm sâu nối buồn nhân thế, nỗi cô đơn của nhà thơ. Xung quanh tác giả giờ chỉ còn là thiên nhiên, một thiên nhiên với cái buồn ảo não, da diết, nỗi sầu vạn cổ từ ngàn xưa chợt theo gió thổi về, giờ đây giữa thiên nhiên vũ trụ rộng mênh mông bao la ấy chỉ còn lại một mình tác giả đứng lặng chôn chân trong quạnh quẽ,cô liêu.

+ Không gian luôn mang một màu buồn man mác, trôi xa, vẫn hắt hiu, vẫn xa vắng lạ lùng (Khổ thơ thứ 3)

– Giữa không gian mênh mông, buồn như vậy thì thời gian cũng như được kéo dài ra, trải dài hơn. Thời gian được thực hiện theo dòng chảy từ hiện tại về quá khứ xa xôi. Rồi từ dòng sông về thời tiền sử, nhà thơ trở về hiện tại để tìm điểm tựa tinh thần ở quê hương, đất nước.

Câu 2:

Câu thơ cuối đặc điễn tả tâm trạng của thi nhân: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Câu thơ mang một âm hưởng của Đường thi nhưng có sự sáng tạo.

Thôi Hiệu trong bài “Hoàng Hạc Lâu” kết thúc bằng hai câu thơ:

    “Nhật mộ hương quan hà xứ thị

     Yên ba giang thượng sử nhân sầu”

Tản Đà dịch:

        “Quê hương khuất bóng hoàng hôn

        Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”

Khương Hữu Dụng dịch:

         “Hoàng hôn về đó quê đâu tá

       Khói sóng trên sông  não dạ người”

Cả hai tác giả đều dùng hình ảnh “khói sóng trong hoàng hôn” để diễn tả nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, da diết của mình. Có lẽ đó là hình ảnh mang nét đặc trưng của quê hương, xứ sở. Tuy nhiên, khác với Thôi Hiệu, Huy Cận chẳng cần đến khói sóng mà câu thơ bỗng òa lên nứt nở. Nỗi nhớ nhà nhớ quê như hòa với tình yêu sông núi. Đó là tâm trang chung của mỗi người dân mất nước. Đằng sau nỗi buồn, nỗi sầu trước không gian và vũ trụ là tâm sự yêu nước thầm kín của một trí thức bơ vơ, bế tắc trước cuộc đời. Tác giả không cần mượn tới ngoại cảnh mà vẫn tự biểu hiện với những cung bậc cảm xúc thiết tha, vẫn thể hiện rõ nội tâm, nỗi lòng của mình.

Liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *