Menu Đóng

Soạn bài Hầu trời – Tản Đà

Câu 1:

* Cách vào đề bài thơ:

– Khổ thơ mở đầu  4 câu có tác dụng gây nghi vấn, gợi sự tò mò : Chuyện có vẻ như mộng mơ, bịa đặt “chẳng biết có hay không”, nhưng dường như lại là thật:

– Điệp từ “thật”: 4 lần / 2 câu;

– Câu cảm thán, ngắt nhịp 2/2/3: khẳng định chắc chắn, củng cố niềm tin, gây ấn tượng là chuyện có thật hoàn toàn:

=> Như vậy, cách vào chuyện thật độc đáo và có duyên, tạo được sự tò mò, chú ý cuốn hút người đọc về câu chuyện lên tiên của mình.

* Phân tích khổ đầu:

– Câu thơ mở đầu tiên đã tạo ra một không khí nửa hư nửa thực để gây được ở người đọc một mối nghi vấn nhằm gợi trí tò mò:

“Đêm qua chẳng biết có hay không”

   Chuyện có vẻ như mộng mơ, như bịa đặt, chẳng biết có hay không, nhưng dường như lại là thật, thật hoàn toàn bởi tác giả đã bồi đắp ba câu thơ bằng những lời khẳng định chắc như đinh đóng cột, nhắc đi nhắc lại bốn lần chữ thật với nhịp thơ dồn dập ngăn cách bằng những dấu cảm thán như để củng cố thêm niềm tin:

Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.

“Thật hồn ! Thật phách ! Thật thân thể !

Thật được lên tiên – sướng lạ lùng.”

   Như vậy, ba câu thơ dường như muốn nói không còn điều gì phải nghi ngờ nữa. Cái bàng hoàng vì lạ lùng, đột ngột bị át đi bởi cái sướng lạ lùng vì được lên Trời, gặp tiên. Cảm giác đó làm cho câu chuyện mà tác giả sẽ kể sẽ trở nên có sức hấp dẫn đặc biệt, không ai có thể bỏ qua. Tác giả đã kết hợp kể và bình giá để tăng sự cuốn hút.

Câu 2:

Cảnh đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe đã diễn ra khá sinh động pha chút hóm hỉnh thật thú vị qua lời kể của tác giả:

* Thái độ của tác giả khi đọc thơ:

– Thi sĩ đọc rất nhiệt tình, cao hứng và có phần tự hào, tự đắc vì thơ văn của chính mình:

“Đọc hết văn vần sang văn xuôi

Hết văn thuyết lí lại văn chơi

Đương cơn đắc ý đọc đã thích

Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi.”

–  Rồi thi sĩ lại tự khen mình:

“Văn dài hơi tốt ran cùng mây !

Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay.

 …

Văn đã giàu thay, lại lắm lối

Trời nghe Trời cũng bật buồn cười !”

Qua đó, tác giả đã vẽ lại chính tâm hồn và tư cách nghệ sĩ của chính mình trước bạn đọc. Nhà thơ chỉ cao hứng như thế khi gặp được người hiểu và thông cảm (là Trời ) mà thôi. Ở hạ giới đâu dễ tìm được người tri âm như vậy.

– Tác giả có nhu cầu muốn đọc hết cho Trời và chư tiên nghe những tác phẩm văn chương, những đứa con tinh thần của mình. Bằng thủ pháp liệt kê, tác giả đã kể hết những tác phẩm văn chương của mình:

“Bẩm con không dám man cửa Trời

Những áng văn con in cả rồi

Hai quyển Khối tình văn thuyết lí

Hai Khối tình con là văn chơi

Thần tiên, Giấc mộng văn tiểu thuyết

Đài gương, Lên sáu văn vị đời

Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch

Đến quyển Lên tám nay là mười”

– Giọng đọc thơ của thi nhân vừa truyền cảm, vừa hóm hỉnh, vừa sảng khoái, cuốn hút người nghe.

=>Cá tính thơ và niềm khát khao chân thành của người thi sĩ:

– Tản Đà rất ý thức về tài năng của mình và ông cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ bản ngã cái tôi của mình. Những câu thơ đó như đã cực tả niềm tự hào, tự nhận thức của nhà thơ về tài năng sáng tạo nghệ thuật của mình. Ông cũng rất ngông khi tìm đến tận Trời để khẳng định tài năng của mình trước Ngọc Hoàng và chư tiên.

– Niềm khao khát chân thành trong tâm hồn thi sĩ. Phải chăng, giữa chốn văn chương hạ giới rẻ như bèo, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, khinh bỉ, ông không tìm được tri âm tri kỉ nên phải lên tận cõi tiên mới có thể thỏa nguyện.

– Có lẽ, trước Tản Đà ít ai nói trắng ra cái hay, cái tuyệt của văn thơ mình như vậy, hơn nữa, lại nói trước mặt Trời (một ông Trời cũng khá bình dân ). Ở đây, ý thức cá nhân ở nhà thơ đã phát triển rất cao và Tản Đà không hề vô lối khi tự khen mình, mà để cho Trời khen.  

* Thái độ của Trời và chư tiên:

– Trời khen nhiệt tình và đánh giá rất cao thơ văn thi sĩ:

“Trời lại phê cho: Văn thật tuyệt !

Văn trần được thế chắc có ít !

Nhời văn chuốt đẹp như sao băng !

Khí văn hùng mạnh như mây chuyển !

Êm như gió thoảng, tinh như sương !

Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết !”

=> Thái độ cảm xúc, tình cảm của Trời là vừa khâm phục, vừa thích thú, như hòa cùng dòng cảm xúc trong văn thơ của tác giả.Lời khen của Trời hẳn là sự thẩm định có sức thuyết phục nhất, không thể bác bỏ hay nghi ngờ. Đây đúng là một lối tự khẳng định rất ngông của vị trích tiên.

– Chư tiên nghe thơ rất xúc động, tán thưởng và hâm mộ:

“Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi

Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày

Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng

Đọc xong một bài cùng vỗ tay

Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:

Anh gánh lên đây bán chợ Trời ! ”

=> Chư Tiên nghe thơ của thi nhân một cách xúc động, tán thưởng và hâm mộ.

Những phản ứng về mặt tâm lí của các nhân vật được đan xen vào nhau một cách linh hoạt làm cho buổi nghe thơ trở nên sôi nổi, hào hứng. Người đọc thơ hay mà tâm thế người nghe cũng cảm thấy hay.

=>Như vậy, Tản Đà muốn khẳng định giá trị văn chương của mình. Ông muốn văn chương của mình được nhiều người yêu thích, biết đến và trân trọng.

Câu 3:

Tản Đã đã phản ánh rất chân thực và cảm động về cuộc sống của mình cũng như tầng lớp văn nghệ sĩ đương thời:

“Bẩm Trời cảnh con thực nghèo khó

Trần gian thước đất cũng không có

….

Biết làm có được mà dám theo”.

 – Tản Đà không chỉ muốn thoát li cuộc đời bằng những cuộc mơ ước lên trăng, lên tiên. Ông đã vẽ bức tranh hiện thực về chính cuộc đời tác giả, cũng như bao nhà văn khác. Họ vẫn sống và viết cho đến chết giữa cuộc đời nghèo khổ. Những lời giãi bày chân thật với Trời về hoàn cảnh sống của ông dưới trần là hoàn toàn chân thực. Tản Đà vẫn muốn giúp đời, cứu người. Tất cả họ đều bị rơi vào cảnh nghèo khó, túng quẫn, sức khỏe yếu, sinh kế khó khăn, tuổi già mà vẫn chưa làm được gì cho đời. Tản Đà tài năng là thế, ý thức về trách nhiệm sâu sắc là thế, song xã hội thực dân nửa phong kiến đã cướp đi của ông tất cả: không tấc đất cắm dùi, thân phận bị rẻ rúng, bị o ép nhiều chiều,… Qua đó, nhà thơ còn lên án xã hội bất công đã đẩy họ vào những tình huống bi đát nhất.

– Trong bài thơ, Tản Đà không trực tiếp phát biểu quan niệm của mình về văn và nghề văn. Tuy vậy, ẩn sau câu chữ, ta vẫn thấy một sự hình dung khác trước về hoạt động tinh thần đặc biệt này.

+ Dường như Tản Đà đã ý thức được sự cần thiết phải chuyên tâm với nghề văn, phải trường vốn để theo đuổi nó dài dài:

“Nhờ Trời năm xưa học ít nhiều

Vốn liếng còn một bụng văn đó.”

+ Trong mắt Tản Đà, văn chương lúc này là một nghề kiếm sống mới, có người bán, kẻ mua, có thị trường tiêu thụ và bản thân thị trường cũng hết sức phức tạp, không dễ chiều:

“Giấy người mực người thuê người in

Mướn cửa hàng người bán phường phố.

Văn chương hạ giới rẻ như bèo

Kiếm được đồng lãi thực rất khó.

Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều

Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.

Lo ăn lo mặc hết ngày tháng”

+ Tản Đà cũng chớm nhận ra: đa dạng về thể loại là một đòi hỏi thiết yếu của hoạt động sáng tác và với những sáng tác mới thì tiêu chí đánh giá tất nhiên là phải khác xưa.

Câu 4:

Những cái mới và hay về nghệ thuật của bài thơ là:

– Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu kết cấu nào, nguồn cảm xúc được bộc lộ một cách thoải mái, tự nhiên và phóng túng.

– Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm và rất gần gũi với đời sống, không cách điệu, ước lệ.

– Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên và lôi cuốn người đọc. Lối kể chuyện đầy tính bình dân và giọng khôi hài trong bài thơ hoàn toàn thống nhất với nhau, hỗ trợ cho nhau. Lối kể ấy, nụ cười ấy đã làm nên nội dung trữ tình chính, giúp ta hiểu về con người tác giả hơn.

– Từ ngữ nôm na, bình dị, như lấy ở đời sống bình thường. Đặc biệt, dưới ngòi bút của tác giả, Trời và chư tiên không có một chút gì đạo mạo mà lại rất bình dân.

– Tác giả tự hiện diện trong bài thơ với tư cách người kể chuyện, đồng thời là nhân vật chính. Cảm xúc biểu hiện phóng túng, tự do, không hề gò ép.

– Nhà thơ đã sáng tạo ra một cuộc hầu Trời thật lí thú, ngộ nghĩnh mà như thật với khả năng tưởng tượng phong phú và dàn cảnh hợp lí.

=> Tản Đà đã tìm được hướng đi đúng đắn của mình để tự khẳng định mình giữa lúc thơ phú nhà Nho đang đi dần tới dấu chấm hết.

LUYỆN TẬP:

CÂU 1:

Cách xưng danh của tác giả:

– Tác giả đã tâu trình rõ ràng về họ tên, xuất xứ của mình cho Trời nghe. Việc xưng danh của Tản Đà đã diễn ra khá tự nhiên, phù hợp với mạch truyện và mang dấu ấn Tản Đà trong cung cách xưng danh vẫn thể hiện khá rõ:

“Dạ bẩm lạy Trời con xin thưa

Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn

Quê ở Á châu về Địa Cầu

Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”.

Tác giả đã tách tên, họ theo một kiểu công khai lí lịch rất hiện đại, lại còn nói rõ bản quán, quốc tịch, châu lục, tên của hành tinh,…

– Có một nụ cười hóm hỉnh ẩn đằng sau vẻ thật thà, thành khẩn trước đấng trí tôn, nhưng điều đáng nói hơn hết vẫn là ý thức cá nhân, ý thức dân tộc của nhà thơ. Một cái tên thật chứ không phải tự hay hiệu, được nói ra trịnh trọng đến vậy thì hẳn là nhà thơ phải thấy có một giá trị không thể phủ nhận gắn liền với nó.

– Hơn nữa, ông còn muốn Trời thấy được Nguyễn Khắc Hiếu chính là con người của Á châu, của xứ sở có một nền văn minh tinh thần cao quý, đáng tự hào. Tác giả còn kiêu hãnh khi khai mình là đứa con đích thực của sông Đà núi Tản nước Nam Việt. Đồng thời qua đó, tác giả đã ngầm cho biết lai lịch của bút hiệu Tản Đà – một điều đã từng được ông thể hiện trong nhiều bài thơ khác.

– Cách nói của nhà thơ không chỉ là cách nói của ý thức cá nhân, của cái ngông mà còn chứa đựng một thái độ tự tôn dân tộc, một tình cảm yêu nước đáng quý.

– Những trường hợp xưng danh trong thơ thời văn học trung đại:

+ Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

   Này của Xuân Hương mới quệt rồi

( Mời trầu – Hồ Xuân Hương )

+ Bất tri tam bách dư niên hậu

   Thiên hạ nhân hà khấp Tố Như.

( Đọc Tiểu Thanh kí – Nguyễn Du )

+ Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

( Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ )

CÂU 2:

–  “Ngông” chỉ sự khác thường. “Ngông” trong văn chương dùng để chỉ một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác thói thường có ở nhà văn, nhà thơ có ý thức cá nhân cao độ.

– Trong bài Hầu Trời, cái ngông của Tản Đà có những biểu hiện nổi bật:

+ Tự cho mình văn hay đến mức Trời cũng phải tán thưởng.

+ Không thấy có ai đáng là kẻ tri âm tri kỉ với mình ngoài Trời và chư tiên.

+ Xem mình là một trích tiên bị đày xuống hạ giới vì tội ngông.

+ Nhận mình là người nhà Trời, được sai xuống hạ giới thực hiện một sứ mệnh cao cả (thực hành thiên lương).

+ Ngoài ra, việc nhà thơ bịa ra chuyện hầu Trời, nói như thể đó là chuyện thật đã hàm chứa một sự khiêu khích nhất định đối với cái nhìn thầy thành kiến về thang bậc giá trị của con người trong xã hội. Đó là chưa kể việc Tản Đà dám hình dung các đáng siêu nhiên như những đối tượng rất đỗi bình dân, thậm chí ngang hàng với mình.

– Tản Đà không phải trường hợp ngông cá biệt trong văn học Việt Nam. Trước ông, những người như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát,… đều ngông. Tuy nhiên, cái ngông của Tản Đà vẫn có những điểm đặc thù do sự quy định của thời đại:

+ Cái ngông của Tản Đà có nhiều gặp lại cái ngông của Nguyễn Công Trứ (thể hiện qua Bài ca ngất ngưởng ): ý thức rất cao về tài năng của bản thân, dám nói giọng bông lơn về những đối tượng như Trời, Tiên, Bụt,… dám phô bày toàn bộ con người vượt ngoài khuôn khổ của mình trước thiên hạ, như muốn giỡn mặt thiên hạ,…

+ Nói về sự khác biệt giữa hai người có thể thấy cái ngông ở Tản Đà là cái ngông của kẻ tuy không phải sống vô trách nhiệm với xã hội nhưng không còn xem vấn đề nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung là chuyện trọng nữa. Hơn nữa, cái tài mà Tản Đà muốn khoe về cơ bản là cái tài thuộc phạm trù văn chương. Rõ ràng ở đây nhà thơ đã rũ bỏ được khá nhiều gánh nặng trách nhiệm ( mà thông thường các nhà nho vẫn đặt trên vai mình ) để sống thoải mái hơn với cái tự do cá nhân mới mẻ mà thời đại đưa tới.

Liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *