Menu Đóng

Soạn bài Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân

Câu 1:

– Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra tình huống truyện độc đáo: Cuộc gặp gỡ khác thường của hai con người khác thường: viên quản ngục – kẻ đại diện cho bạo lực tăm tối nhưng lại rất khát khao ánh sáng của chữ nghĩa với Huấn Cao – người tử tù đang chờ ngày ra pháp trường nhưng có tài viết chữ đẹp nổi tiếng. Hai con người ấy gặp nhau giữa chốn ngục tù. Huấn Cao càng lạnh lùng, càng tỏ ra bất cần thì viên quản ngục lại càng cháy bỏng cái sở nguyện được chữ. Và kịch tính đã lên tới đỉnh điểm khi ngục quan nhận được công văn khẩn của quan Hình bộ Thượng thư về việc chuyển các tử tù vào pháp trường trong kinh.

– Tác dụng của tình huống truyện đối với việc thể hiện tính cách nhân vật:
+ Tính cách của mỗi nhân vật mỗi lúc thêm đầy đủ, rõ nét và trọn vẹn hơn.

+ Từ tình huống truyện này mà Huấn Cao đã hiểu thêm về viên quản ngục. cũng từ đó, quản ngục đã trút bỏ con người bên ngoài, con người công cụ để trở về với con người thật của mình.

+ Tình huống truyện đã tạo nên kịch tính cho thiên truyện. Chữ người tử tù là một chuỗi những xung đột. Đó là mâu thuẫn giữa quản ngục và viên thơ lại cùng đám lính, giữa quản ngục và Huấn Cao…Có thể nói Chữ người tử tù mở ra bằng mâu thuẫn, xung đột, cuối cùng cũng khép lại bằng mâu thuẫn, xung đột.

Câu 2:

a) Vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao:

Là nhân vật trung tâm của tác phẩm, Huấn Cao hội tụ những nét đẹp rực rỡ nhất và cũng là nơi nhà văn gửi gắm thông điệp nghệ thuật sâu xa của mình. Những điểm sáng ở nhân vật này là: tài hoa – khí phách – thiên lương. Tất cả được chạm khắc qua ngòi bút tài hoa, điêu luyện mà thấm đẫm màu sắc lãng mạn của Nguyễn Tuân.

* Vẻ đẹp tài hoa

– Qua lời nói:

+ Của quản ngục với thơ lại: người mà khắp vùng….rất đẹp đó không?

+ Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm

+ Có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật ở đời.

+ Nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những hoài bão tung hoành của một đời con người.

– Qua thái độ và hành động: quản ngục liều chết biệt nhỡn Huấn Cao (nói năng lễ phép, đãi Huấn Cao rượu thịt), từng bước bày tỏ khát vọng xin chữ.

=> Thái độ, lời nói của quản ngục là phép đòn bẩy để Nguyễn Tuân ca ngợi vẻ đẹp tài hoa của Huấn Cao. Nét chữ của Huấn Cao đẹp đến nỗi làm người ta có thể đặt cao hơn sinh mạng và danh dự. Nét đẹp trong chữ viết của Huấn Cao là nét đẹp có ý nghĩa lớn với cuộc đời, tồn tại vì con người

* Vẻ đẹp khí phách

– Lý tưởng sống cao cả: dám phất cờ dấy binh chống lại triều đình, hi sinh hạnh phúc riêng vì sự nghiệp lớnè đi tù và chịu án tử hình.

– Tư thế, hành động:

+ Có tài bẻ khóa vượt ngục è vào tù ra tội, từng trài

+ Ung dung, đường hoàng:

 Lúc vừa vào nhà giam: cùng các đồng sự ung dung thúc gông đánh thuỳnh một cái rồi đường hoàng bước vào nhà giam

-> Tự do, ngông nghênh, kiêu bạc, con người đứng ngoài mọi luật lệ

Kiêu ngạo, thách thức, coi thường cái chết: Thản nhiên nhận rượu thịt, khinh thường quản ngục (Ta chỉ muốn một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây.)

 Khinh bạc: tính khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ít chịu cho chữ.

=> Vẻ đẹp của Huấn Cao là vẻ đẹp của khí phách bất khuất, anh hùng. Đó là hình mẫu tiêu biểu đẹp đẽ của bậc hào kiệt “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”.

* Vẻ đẹp thiên lương

– Thiên lương tự tỏa sáng từ con người Huấn Cao.

+ Tỏ rõ thái độ lạnh lùng, kiêu bạc, thậm chí coi thường những trò “tiểu nhân thị oai” của bọn lính lệ cũng như hành động kì lạ của viên quản ngục.

+ Sau khi hiểu tấm lòng của quản ngục:

+) “mỉm cười với thầy thơ lại” -> chân thành, cởi mở

+) “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”

-> Câu nói vừa thoáng một chút ân hận vì đã đối xử khinh bạc với quản ngục, lại vừa rưng rưng niềm cảm động. Đó là cách ứng xử đầy tôn trọng và trân trọng của một tấm lòng trước một tấm lòng, của một thiên lương trước một thiên lương.

     Là một người tài hoa, độc đáo, sống mạnh mẽ, phóng khoáng vậy mà ông Huấn lại dành cho “kẻ thù” của mình những lời tri ân cảm động như thế, quả là hiếm và đáng quý.

     Nói như Cao Bá Quát: “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (Cả cuộc đời chỉ cúi đầu trước hoa mai), ở đây, Huấn zCao cũng đã “cúi đầu” trước nhân cách và sở thích cao quý của quản ngục và thơ lại. Cái cúi đầu ấy làm con người trở nên lớn lao hơn, đẹp đẽ, giàu chất nhân văn hơn.

– Thiên lương có khả năng làm bừng sáng vẻ đẹp của người khác

+ Lời khuyên với quản ngục: Ở đây lẫn lộn…mất cái đời lương thiện đi -> Lời khuyên khuyến khích con người hướng thiện

+ Quản ngục cúi đầu trước Huấn Cao và nói những lời cảm động: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.

-> Bằng chứng rõ nhất về khả năng cảm hóa và làm bừng sáng thiên lương ở người khác của nhân vật Huấn Cao. Điều mà con người này ban tặng cho cuộc đời không chỉ là cái đẹp của nghệ thuật thư pháp mà còn là khả năng cứu rỗi những cuộc đời khác.

=> Huấn Cao là người vừa có tài vừa có tâm, bất khuất trước cái ác cái xấu nhưng mềm lòng trước cái thiện, cái đẹp.                    

b) Quan niệm thẩm mĩ và thái độ của nhà văn

– Quan niệm thẩm mĩ:

+ Cái đẹp và cái thiện không thể tách rời nhau

+ Một nhân cách đẹp bao giờ cũng là sự thống nhất giữa cái tâm và cái tài.

– Thái độ của nhà văn: Yêu mến, ca ngợi Huấn Cao, tiếc nuối những người như ông Huấn -> tình cảm yêu nước thầm kín, trân trong những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. 

Câu 3:

 – Nhân vật viên quản ngục: Là nhân vật phụ của truyện ngắn, nhưng nhân vật quản ngục lại có sứ mệnh nghệ thuật không nhỏ. Xuất hiện ngay từ những dòng đầu của tác phẩm, nhân vật quản ngục đã mang đến cho người đọc ấn tượng về những điều khác lạ.

– Huấn Cao cảm kích coi là “một tấm lòng trong thiên hạ”:

+ Dù là cai tù, chứng kiến bao điều “tàn nhẫn, lừa lọc…giữa 1 đống cặn bã”, dễ dẩy con người vào chốn bùn nhơ nhưng ông có thú chơi chữ, “sở nguyện cao quý” là được treo ở nhà riêng một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết. Có thể thấy viên quản ngục là một người có tâm hồn nghệ sĩ

+ Là một người có tấm lòng “biết nhỡn liên tài”, cảm phục tài năng và nhân cách Huấn Cao. Biệt đãi Huấn Cao, bị sĩ nhục vẫn điềm đạm “xin tuân lệnh”. Điều đó chứng tỏ quản ngục say mê, quý trọng cái đẹp.

+ Quản ngục suy nghĩ về nghề của mình và cho rằng “chọn nhầm nghề”. Ba nét trên đây cũng chứng tỏ quản ngục thuộc hạng người kính mến khí phách, biết tiếc, biết trọng người có tài, biết nghe lời khuyên nhủ của Huấn Cao. Một lòng tâm phục, khẩu phục, nghẹn ngào “vái người tù một vái, chắp tay nói một câu: “ kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. “Quản ngục” hai tiếng ấy để chỉ công việc chức trách. Đó chỉ là cái áo khoác phủ ngoài một tâm hồn đẹp.

=> Đây chính là những phẩm chất khiến Huấn Cao cảm kích, coi là “một tấm lòng trong thiên hạ” .

– Quan niệm nghệ thuật của nhà văn

+Trong mỗi con người đều có một người nghệ sĩ, đều ẩn chứa tâm hồn yêu cái đẹp, cái tài. Không phải ai cũng xấu hết, bên cạnh phần ác quỷ, mỗi người còn có phần thiên lương, phần thiên thần

+ Có khi cái đẹp tồn tại trong môi trường của cái ác, cái xấu nhưng không vì thế mà nó lụi tàn, trái lại nó càng mạnh mẽ và bền bỉ giống như hoa sen mọc trên đầm lầy.

=> Tác giả thì xem ngục quan là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”.

Nếu Huấn Cao là hình ảnh của những người có khả năng tạo ra cái Đẹp thì viên quản ngục lại là biểu tượng của người biết thưởng thức và cảm nhận cái Đẹp. Quản ngục là một cặp tương đồng và tương xứng với Huấn Cao.

Câu 4:

Cảnh cho chữ:

– Không gian cho chữ: ngục tù (một buồng tối chật hẹp….phân chuột, phân gián) >< không gian cho chữ thường thấy: thư phòng, nơi sạch sẽ, lịch sự.

 -> Việc cho chữ vốn diễn ra những nơi tao nhã, là những thư phòng, viện sách. Còn ở đây nó lại diễn dưới nhà tù tăm tối và hôi hám. Từ đó cho thấy cái đẹp xuất phát từ cái dơ bẩn, thiên lương được tỏa sáng từ nơi bóng tối và cái ác ngự trị. Có thể nói đây là lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, cái đẹp thư pháp lại được khai sinh từ một không gian ẩm thấp, bẩn thủi, trên mảnh đất của bạo tàn như thế.

 – Thời gian: một đêm tối tăm, u ám, đặc biệt đây là đêm cuối cùng của 1 con người – thời khắc cuối cùng ngắn ngủi, quí giá thường dành để nghĩ về những điều thiêng liêng nhất, để sống cho riêng mình nhưng Huấn Cao dành đêm cuối cùng của đời mình cho người khác.

 -> Dòng chữ cuối cùng càng trở nên quí giá, là lời trăng trối của một người sắp từ giã cuộc đời.

 – Ánh sáng >< bóng tối.

Màu trắng tấm lụa >< nhà giam bẩn thỉu.

 – Cảnh cho chữ:

+ Tư thế người cho chữ: một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng…trên mảnh ván >< tư thế cho chữ thường thấy: ung dung, nhàn hạ (thân nhà tâm nhàn)

 + viên quản ngục (khúm núm), thầy thơ lại (run run) đối lập với người tử tù đường hoàng.

-> thủ pháp tương phản giữa ánh sáng và bóng tối, cái hỗn độn xô bồ với cái thanh khiết, cao cả làm nổi bật hình ảnh Huấn Cao, tô đậm sự vươn lên thắng thế của ánh sáng với bóng tối, cái đẹp đối với cái xấu xa, nhơ bẩn; cái thiện đối với cái ác

– Cuộc gặp gỡ của 3 con người ở 2 giới tuyến. Về địa vị xã hội, chính trị họ là kẻ thù của nhau, là những người “không đội trời chung”. Vậy mà họ đã ngồi bên nhau, ba cái đầu chụm lại trong một thế giới đầy thân thiện, của những kẻ tri âm tri kỉ. Không còn một ranh giới nào, không còn quyền lực chỉ có sự lên ngôi của cái Đẹp, của thiên lương và những tấm lòng tri âm.

– Nhà tù vốn là nơi bóng tối ngự trị, giờ đây trở thành thế giới rực rỡ ánh sáng. Nhà tù thực dân là biểu tượng của cái ác, của cái chết giờ đây lại trở thành mảnh đất cho sự sống và cái đẹp nảy mầm. Lời khuyên của Huấn Cao và hành động bái lĩnh của viên quản ngục: cái thiện và cái đẹp có sức mạnh cảm hóa con người. Từ đó cho thấy:

+ Niềm tin và sự khẳng định của nhà văn về sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối

+ Thiên lương là bản tính tự nhiên của con người. Dù trong hoàn cảnh nào con người vẫn luôn khát khao hướng tới chân – thiện – mỹ. Đây chính là chiều sâu giá trị nhân văn của tác phẩm.

=> Vì thế nên tác giả gọi đây là một cảnh tượng xưa nay chưa từng có.

Câu 5:

Nghệ thuật của tác phẩm:

– Trong truyện ngắn Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã khắc họa thành công hình tượng Huấn Cao- một con người tài hoa, có cái tâm trong sáng và khí phách hiên ngang, bất khuất. Qua đó, nhà văn thể hiện quan niệm về cái đẹp, khẳng định sự bất tử của cái đẹp và bộc lộ thầm kín tấm lòng yêu nước => bút pháp lí tưởng hóa cảm cảm hứng lãng mạn.

– Tạo dựng tình huống truyện độc đáo

– Tạo không khí cổ kính, trang trọng: sử dụng nhiều từ hán việt, từ cổ

– Sử dụng thủ pháp đối lập và ngôn ngữ giàu tính tạo hình => sự đối lập gay gắt giữa cái đẹp và cái xấu, cái thiện và cái ác, tính cách và hoàn cảnh.

Luyện tập:

Nhân vật Huấn Cao:

– Hoàn cảnh nhân vật: Huấn Cao – người tử tù đang chờ ngày ra pháp trường

– Vẻ đẹp của nhân vật:

+ Vẻ đẹp tài hoa: Tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp, chữ viết của ông trở thành những bức tranh nghệ thuật và là niềm khát khao của những con người say mê cái đẹp.

+ Anh hùng có dũng khí hiên ngang, bất khuất:  là người cầm đầu cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại triều đình, bị bắt, đang chờ xử chém. Nhưng vẫn ung dung không sợ sệt; thản nhiên nhận rượu thịt;

+ Khinh bỉ viên quản ngục, trả lời quản ngục bằng câu nói khinh bạc

+ Một con người thiên lương: tâm hồn trong sáng, một nhân cách chính trực, trọng nghĩa khinh lợi, luôn đặt chữ tâm lên trên cả vàng bạc và địa vị. Ông đã khuyên quản ngục thay đổi chổ ở để gìn giữ thiên lương cho lành vững

⟹ Một nhân cách đẹp bao giờ cũng là sự thống nhất giữa cái tâm và cái tài.

Liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *