Menu Đóng

Bài 1: Sự xuất hiện loài người và bầy người nguyên thủy

Thế nào là Người tối cổ ?

Trả lời:

Ở chặng đầu của quá trình hình thành loài người, có một loài vượn cổ, sống khoảng 6 triệu năm trước đây, đã có thể đứng và đi bằng hai chân, dùng tay để cầm nắm, ăn hoa quả, củ, là và cả động vật nhỏ. Xương hóa thạch của chúng được tìm thấy ở Đông Phi, Tây Á và cả ở Việt Nam.

Trên đà tiến triển, vượn cổ chuyển biến thành Người tối cổ, bắt đầu từ khoảng 4 triệu năm trước đây. 


Thế nào là bầy người nguyên thủy ?

Trả lời:

Ở một số loài động vật đã hình thành một cách tự nhiên quan hệ hợp đoàn, có đôi, có đàn và con đầu đàn. Người tối cổ đã có quan hệ hợp quần xã hội: có người đứng đầu, có phân công lao động, mái đá hoặc cũng có thể dựng lều bằng cành cây, dã thú, sống quay quần theo quan hệ ruột thịt với nhau, gồm 5-7 gia đình. Mỗi gia đình có đôi vợ chồng và con nhỏ chiếm một góc lều hay góc hang. Bấy giờ, chưa có quy định xã hội nên người ta gọi những tập hợp quần xã hội đầu tiên này là bầy người nguyên thủy.

Bầy người nguyên thủy vẫn còn sống trong tình trạng “ăn lông ở lỗ”-một cuộc sống tự nhiên, bấp bênh, triền miên hàng triệu năm.


Hãy nêu những tiến bộ kĩ thuật khi Người tinh khôn xuất hiện.

Trả lời:

Trong việc chế tạo công cụ, Người tinh khôn đã biết ghè hai rìa của một mảnh đá, làm cho nó gọn và sắc cạnh hơn,dùng làm rìu, dao, nạo. Họ còn lấy xương cá, cành cây đem mài hoặc đẽo nhọn đầu để làm lao.

Từ đó, con người tiến tới biết chế tạo cung tên. Đây là một thành tựu lớn trong quá trình chế tạo công cụ và vũ khí. Với cung tên, con người mới săn bắn có hiệu quả và an toàn.

Thức ăn của con người đã tăng lên đáng kể, nhất là thức ăn động vật, từ khi kĩ thuật thời đá cũ được hoàn thiện và đặc biệt là từ khi có cung tên.

Người ta cũng có thể rời hang động ra dựng lều, định cư ở những địa điểm thuận tiện hơn. Cư trú “nhà cửa” phổ biến ở Người tinh khôn từ cuối thời đá cũ.

Đến khoảng 1 vạn năm trước đây, loài người tiến vào thời đá mới.

Điểm nổi bật của công cụ đá mới là người ta có thể ghè đẽo những mảnh đá thành hình dạng gọn và chính xác, thích hợp với từng công việc, nhiều kiểu loại theo những yêu cầu khác nhau (dao, rìu, đục…), được mài nhẵn ở rìa lưỡi hay toàn thân, được khoan lỗ hay hay có nấc để tra cán.

Có thể nói rằng, công cụ thời đá cũ vẫn là những mảnh đá được ghè đẽo thô sơ, còn công cụ thời đá mới là những mảnh đá đã được con người ghè sắc và mài nhẵn  thành hình công cụ.

Có thể nói rằng, công cụ thời đá cũ vẫn là những mảnh đá được ghè đẽo thô sơ, còn công cụ thời đá mới là những mảnh đá đã được con người ghè sắc và mài nhẵn thành hình công cụ.

Cũng thời gian này, người ta biết đan lưới đánh cá bằng sợi vỏ cây và làm chì lưới bằng đất nung, biết làm đồ gốm để dựng và đun nấu (nồi, bát, vò…)


Hãy cho biết những tiến bộ kĩ thuật của thời đá mới.

Trả lời:

Điểm nổi bật của công cụ đá mới là người ta có thể ghè đẽo những mảnh đá thành hình dạng gọn và chính xác, thích hợp với từng công việc, nhiều kiểu loại theo những yêu cầu khác nhau (dao, rìu, đục…), được mài nhẵn ở rìa lưỡi hay toàn thân, được khoan lỗ hay hay có nấc để tra cán.

Có thể nói rằng, công cụ thời đá cũ vẫn là những mảnh đá được ghè đẽo thô sơ, còn công cụ thời đá mới là những mảnh đá đã được con người ghè sắc và mài nhẵn thành hình công cụ.

Có thể nói rằng, công cụ thời đá cũ vẫn là những mảnh đá được ghè đẽo thô sơ, còn công cụ thời đá mới là những mảnh đá đã được con người ghè sắc và mài nhẵn thành hình công cụ.

Cũng thời gian này, người ta biết đan lưới đánh cá bằng sợi vỏ cây và làm chì lưới bằng đất nung, biết làm đồ gốm để dựng và đun nấu (nồi, bát, vò…).


Trình bày những tiến bộ trong đời sống con người thời đá mới

Trả lời:

Các nhà khảo cổ coi thời đá mới là một cuộc cách mạng, khi con người tự săn bắn, lượm hái, đánh cá đã tiến tới biết trồng trọt và chăn nuôi. Việc lượm hái năm này qua năm khác đã đem lại kinh nghiệm trồng và thu hoạch theo thời vụ một số cây lương thực và thực phẩm như khoai, củ, bầu, bí, lúa… Đi săn, bắt được thú nhỏ, người ta giữ lại để nuôi và thuần dưỡng thành gia súc, trước tiên là chó rồi đến cừu, lợn (heo), bò v.v…

Con người có óc sáng tạo, và ở thời đá mới này, họ bắt đầu biết khai thác từ thiên nhiên cái cần thiết cho cuộc sống của mình, chứ không chỉ thu lượm những cái có sẵn trong thiên nhiên.

Người ta cũng bắt đầu làm sạch những tấm da thú để che thân cho ấm và cho “có văn hoá”. Những chiếc cúc (khuy) và kim làm bằng xương tìm thấy trong các di chỉ văn hoá đã nói lên điều đó.

Ngoài ra, người ta đã biết dùng đồ trang sức, như vòng cổ bằng vỏ ốc và chuỗi hạt xương (bằng cách đem khoan lồ rồi lấy dây xâu lại), vòng tay, vòng cổ chân, hoa tai bằng đá màu.

Các nhà khảo cổ học còn tìm thấy chiếc sáo bằng xương dùi lỗ, đàn đá và có lẽ còn có cả trống bịt da.

Như thế, từng bước, con người không ngừng sáng tạo. kiếm được thức ăn nhiều hơn, sống tốt hơn và vui hơn. Tuy nhiên, quá trình đó rất dài (4-5 vạn năm), trong đó cuộc sống còn thấp kém và bấp bênh. Đời sống con người chỉ tiến bộ với tốc độ nhanh hơn và ổn định hơn từ thời đá mới khoảng 1 vạn năm trước đây.


Tại sao lại gọi là “cuộc cách mạng thời đá mới” ?

Trả lời:

Gọi là “Cuộc cách mạng thời đá mới” vì :

– Trong thời kì đồ đá mới, kĩ thuật chế tác công cụ đã có sự phát triển vượt bậc (ghè sắc, mài nhẵn đá làm công cụ), con người đã làm ra những công cụ tinh vi hơn, sắc bén hơn, đa dạng và phong phú về chúng loại. Nhờ đó, năng suất lao động tăng lên nhanh chóng. Người ta còn biết đan lưới để đánh cá, biết làm đồ gốm. Từ săn bắn, hái lượm, đánh cá, con người đã tiến tới biết trồng trọt và chăn nuôi.

– Con người đã biết làm sạch những tấm da thú đế che thân cho ấm, họ còn biết dùng đồ trang sức, sáng tạo nghệ thuật… Cuộc sống của con người có sự cải thiện rõ rệt, nền văn minh cổ đại đã dần hình thành. Những thay đổi này mang tính chất một “cuộc cách mạng”. Như vậy, ở thời đá mới, con người đã biết khai thác từ thiên nhiên cái cần thiết cho cuộc sống của mình, chứ không chỉ thu lượm những cái sẵn có trong thiên nhiên.


Hãy cho biết những bước tiến trong lao động và đời sống của người nguyên thuỷ

Trả lời:

Những bước tiến trong lao động và đời sống của người nguyên thuỷ :

–    Vượn cổ : sống cách đây 6 triệu năm, đã có thể đứng và đi và hằng hai chân, dùng tay để cầm nắm, ăn hoa quả, củ, lá và cá động vật nhỏ.

–     Người tối cổ :

+ Xuất hiện khoảng 4 triệu năm trước đây, từ chỗ sử dụng những mảnh đá có sẵn để làm công cụ, Người tối cổ đã biết lấy những mảnh đá hay hòn cuội lớn, đem ghè một mặt cho sắc, vừa tay cầm. Như vậy, họ đã bắt đầu biết chế tác công cụ.

+ Từ chỗ giữ lửa, lấy lửa trong tự nhiên để sưởi ấm và nướng chín thức ăn, con người đã biết ghè hai mảnh đá với nhau để lấy lửa, cải thiện căn bản đời sống của mình.

+ Qua lao động, chế tạo công cụ và sử dụng công cụ, bàn tay con người khéo léo dần. Cơ thể do đó cũng biến đổi theo để có tư thế lao động thích hợp. Tiếng nói cũng thuần thục hơn do nhu cấu trao đổi với nhau.

+ Người tối cổ đã sống trong tổ chức xã hội đầu tiên của mình là bầy người nguyên thuỷ. Bầy người nguyên thủy gồm khoảng 5-7 gia đình sống quây quần theo quan hệ ruột thịt với nhau. Họ cùng nhau lao động, tìm kiếm thức ăn (hái lượm, săn bắt) và chống thú dữ… Trong bầy người nguyên thuỷ đã có sự phân công công việc giữa nam và nữ.

–    Người tinh khôn (Người hiện đại) :

+ Xuất hiện khoảng 4 vạn năm trước đây. Người tinh khôn đã biết ghè hai rìa của một mảnh đá, làm cho nó gọn và sắc cạnh hơn, dùng làm rìu, dao, nạo.

+ Con người đã biết chế tạo cung tên, săn bắn đã xuất hiện.

+ Thức ăn của con người đã tăng lên đáng kể, nhất là thức ăn động vật. Con người đã rời những hang động ra dựng lều, định cư ở những địa điểm thuận lợi hơn. Họ đã biết đến cư trú “nhà cửa” từ cuối thời đá cũ.

+ Bước vào thời đá mới, con người đã từ săn bắn, hái lượm, đánh cá, tiến tới trồng trọt và chăn nuôi. Đời sống vật chất và tinh thần của người nguyên thủy đã có sự phát triển nhanh chóng, con người đứng trước ngưỡng cửa của nền văn minh.

Giaibaitap.me

Liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *